Kính thưa quý bà con và các bạn!
Bạch hầu là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae sinh độc tố gây ra. Bệnh lây lan chủ yếu qua đường hô hấp. Đây là bệnh có khả năng lây lan nhanh trong cộng đồng và có thể gây tử vong nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời.
Theo Bộ Y tế, trước khi triển khai Chương trình Tiêm chủng mở rộng quốc gia, bệnh bạch hầu từng là nguyên nhân gây tử vong cao ở trẻ em. Nhờ triển khai tiêm chủng vắc-xin đầy đủ, số ca mắc bệnh đã giảm đáng kể trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, gần đây bệnh vẫn ghi nhận rải rác tại một số địa phương, đặc biệt ở những nơi có tỷ lệ tiêm chủng thấp hoặc người dân chưa tiêm nhắc đầy đủ.
Tại tỉnh Vĩnh Long, từ đầu năm 2026 đến nay chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh bạch hầu. Tuy nhiên, đây vẫn là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm với tỷ lệ tử vong từ 5% đến 10%. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, tỷ lệ tử vong có thể tăng lên đến 30% đến 40%. Vì vậy, người dân không nên chủ quan và cần chủ động thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng bệnh để bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
Để chủ động phòng, chống bệnh bạch hầu, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Vĩnh Long xin gửi đến quý bà con và các bạn một số thông tin như sau:
1. Nguyên nhân và đường lây truyền bệnh bạch hầu
- Bệnh bạch hầu do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Người là nguồn chứa vi khuẩn chính của bệnh bạch hầu.
- Bệnh lây lan chủ yếu qua tiếp xúc gần, hít phải các giọt bắn chứa vi khuẩn từ dịch tiết đường hô hấp của người bệnh hoặc người mang vi khuẩn khi ho, hắt hơi, nói chuyện.
- Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây qua tiếp xúc với dịch tiết từ các tổn thương ngoài da có chứa vi khuẩn.
- Người mang vi khuẩn nhưng không có triệu chứng vẫn có thể làm lây truyền bệnh trong cộng đồng. Tại vùng có dịch, khoảng 3% đến 5% người khỏe mạnh có thể mang vi khuẩn bạch hầu ở vùng hầu họng.
- Mọi đối tượng chưa có miễn dịch đều có nguy cơ mắc bệnh, đặc biệt là trẻ em chưa được tiêm chủng đầy đủ hoặc người suy giảm miễn dịch.
- Trẻ sơ sinh có thể được bảo vệ nhờ kháng thể từ mẹ truyền sang trong khoảng 6 tháng đầu đời. Tuy nhiên, sau giai đoạn này nếu không được tiêm chủng đầy đủ trẻ rất dễ mắc bệnh.
2. Dấu hiệu nhận biết bệnh bạch hầu
Thời gian ủ bệnh thường từ 2 đến 5 ngày, có thể kéo dài từ 1 đến 10 ngày. Các dấu hiệu thường gặp gồm:
- Sốt nhẹ hoặc vừa, ớn lạnh.
- Đau họng, khàn tiếng, khó nuốt.
- Sưng hạch vùng cổ.
- Chảy nước mũi.
- Khó thở hoặc thở nhanh.
- Mệt mỏi, khó chịu.
- Dấu hiệu điển hình: Xuất hiện giả mạc màu trắng xám, xám hoặc đen ở vùng họng, amidan hoặc thanh quản. Giả mạc dai, dính chắc, dễ chảy máu khi bóc và có thể lan nhanh gây bít tắc đường thở, đe dọa tính mạng người bệnh.
- Một số trường hợp mắc bệnh nhưng triệu chứng nhẹ hoặc không có triệu chứng rõ ràng, tuy nhiên vẫn có khả năng lây bệnh cho người khác.
- Ngoài bạch hầu đường hô hấp, vi khuẩn còn có thể gây bạch hầu ngoài da với biểu hiện đau, đỏ, sưng, loét da có phủ lớp màng màu xám.
3. Biến chứng nguy hiểm của bệnh bạch hầu
Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh bạch hầu có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như:
- Tắc nghẽn đường thở do giả mạc phát triển dày gây khó thở, suy hô hấp.
- Viêm cơ tim, rối loạn nhịp tim, suy tim hoặc đột tử do độc tố vi khuẩn gây ra.
- Tổn thương thần kinh gây khó nuốt, yếu liệt tay chân hoặc liệt cơ hô hấp.
- Tổn thương gan, thận, tuyến thượng thận và nhiều cơ quan khác.
Khuyến cáo: Khi có dấu hiệu sốt, đau họng, khó thở hoặc xuất hiện giả mạc vùng họng cần nhanh chóng đến cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời.
4. Các biện pháp phòng bệnh bạch hầu
Để phòng bệnh hiệu quả, ngành y tế khuyến cáo người dân thực hiện tốt các biện pháp sau:
- Tiêm chủng đầy đủ: Đưa trẻ đi tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch các mũi vắc-xin phòng bệnh bạch hầu theo Chương trình Tiêm chủng mở rộng. Vắc-xin phòng bạch hầu được tiêm phối hợp trong mũi 5 trong 1 (Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Viêm gan B, Hib) với lịch tiêm:
- Mũi 1: Tiêm khi trẻ đủ 2 tháng tuổi.
- Mũi 2: Tiêm sau mũi 1 một tháng.
- Mũi 3: Tiêm sau mũi 2 một tháng.
- Mũi 4: Tiêm nhắc lại khi trẻ đủ 18 tháng tuổi.
- Vệ sinh cá nhân: Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng; che miệng khi ho, hắt hơi; giữ vệ sinh mũi họng sạch sẽ.
- Vệ sinh môi trường: Giữ nhà cửa thông thoáng, sạch sẽ.
- Hạn chế tiếp xúc: Hạn chế tiếp xúc với người có biểu hiện sốt, ho, đau họng hoặc nghi mắc bệnh.
- Khai báo y tế: Khi phát hiện trường hợp nghi ngờ mắc bệnh cần đến cơ sở y tế để được khám, điều trị và cách ly kịp thời nhằm hạn chế lây lan trong cộng đồng.
Bạch hầu là bệnh nguy hiểm nhưng hoàn toàn có thể phòng ngừa hiệu quả bằng tiêm chủng đầy đủ và thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh. Vì sức khỏe của trẻ em, gia đình và cộng đồng, mỗi người dân hãy nâng cao ý thức phòng chống bệnh bạch hầu ngay từ hôm nay.
Nguồn tin: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Vĩnh Long xin trân trọng cảm ơn quý bà con và các bạn đã xem.
Nguyễn Huỳnh Nhi - Trạm y tế xã